PDA

View Full Version : Một số bổ sung cho sách sử


Mai Mèo
09-09-07, 10:16 AM
Sau đây mình post lên 1 số tài liệu về thời đại Mạc Phủ và cải cách Minh Trị vì mình cảm thấy sách còn thiếu nhiều quá về cuộc cải cách này, còn thời Mạc Phủ thì lại quá sơ sài, mình đọc vào vẫn chả hiểu được chi tiết nội bộ nước Nhật lúc ấy ra sao nữa ( bởi dzậy hôm đầu dzô học sử ngồi chơi ko à, có hiểu gì đâu). Các bạn nào nếu cần thì vào đây xem nha.
CẢI CÁCH MINH TRỊ
Cải cách Minh Trị, hay Cách mạng Minh Trị, hay Minh Trị duy tân, (明治維新 Meiji-ishin) là một chuỗi các sự kiện dẫn đến các thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội và chính trị của Nhật Bản. Cuộc cách mạng Minh Trị diễn ra từ năm 1866 đến năm 1869, một thời kỳ 3 năm chuyển đổi thời kỳ hậu Edo (thường gọi là Hậu Shogun Tokugawa) và bắt đầu kỷ nguyên Minh Trị.
Bối cảnh
Việc bị buộc phải mở cửa các hải cảng và chấp nhận thuế suất nhập khẩu thấp cho các nước phương Tây đã khiến Nhật Bản bị chia rẽ. Một số daimyo vốn trước đây bề ngoài khuất phục Mạc phủ Tokugawa đã lấy cớ mạc phủ để cho đất nước rơi vào cảnh giống như nhà Thanh lúc đó trước sự lấn lướt của phương Tây, liền nổi dậy chống lại shogun. Shogun, phần vì không muốn, phần vì không thể chống lại sự nổi loạn đó, đã nhân nhượng và rốt cục giải thể mạc phủ. Một số võ sĩ cấp tiến có đầu óc cải cách (phần lớn không có nguồn gốc thế tập) và quý tộc ở triều đình đã nhân cơ hội nắm lấy quyền lãnh đạo đất nước. Họ nêu khẩu hiệu ủng hộ hoàng đế và chống lại phương Tây (尊王攘夷, sonno joui) để thành lập chính phủ của hoàng đế. Song thực chất đấy là chính phủ của chính họ, vì hoàng đế lúc ấy chỉ mới 14 tuổi. Với khẩu hiệu nói trên, và với đất đai rộng lớn của shogun mà họ tiếp quản, chính phủ mới đã có được sự ủng hộ của các daimyo nổi loạn và nguồn lực tài chính để thực hiện các cải cách.
Ngày 3 tháng 1 năm 1868, chính phủ mới do Nhật hoàng bổ nhiệm được thành lập. Giai cấp tư sản chưa được tham gia chính quyền, nhưng chế độ mới tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển, nên họ ủng hộ chính quyền mới. Thời kì Minh Trị (Minh Trị 明治, nghĩa là "sự cai trị sáng suốt") bắt đầu.
Các cải cách
Để tận dụng ưu thế trung tâm chính trị của Edo, chính phủ mới đã đổi tên Edo thành Tokyo (東京, nghĩa là Kinh đô ở phía Đông) và đưa triều đình về đó.
Chính phủ mới đưa ra khẩu hiệu "Phú quốc cường binh" (富国強兵, fukoku kyohei) nhằm khai thác tâm lý lo sợ Nhật Bản sẽ trở thành thuộc địa của phương Tây nếu không chịu canh tân. Trên cơ sở đó, họ đã thuyết phục được Nhật hoàng tuyên bố từ bỏ những tập tục có hại và sẵn sàng học hỏi phương Tây. Người Nhật trở nên nhiệt tình với bunmei kaika (文明開化, văn minh khai hóa).
Để xóa quyền lực của các daimyo, chính phủ mới đã bãi bỏ hệ thống lãnh địa và danh hiệu của các daimyo. Đồng thời, họ tuyên bố "tứ dân bình đẳng", nghĩa là bốn tầng lớp gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân giờ đây không còn bị phân biệt. Điều này gây bất bình ở tầng lớp võ sĩ, nên chính phủ phải vừa đàn áp vừa xoa dịu bằng cách bồi thường bằng tiền. Khoản tiền nhận được từ chính phủ cộng với tri thức mà tầng lớp võ sĩ được trang bị đã biến tầng lớp võ sĩ thành giai cấp tư sản.
Chính phủ còn ban bố quyền tự do buôn bán và đi lại, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất (đồng Yên).
Nhiều phái đoàn được của sang phương Tây học hỏi về cách thức quản lý hành chính và về kỹ thuật. Toà án mới (kiểu tư sản) được thành lập. Nhiều cải cách quan trọng về giáo dục được thi hành trong đó có việc thành lập các trường đại học để đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh. Cơ sở hạ tầng bắt đầu được quan tâm phát triển. Nhiều chuyên gia phương Tây được mời tới Nhật Bản để phổ biến kiến thức và kỹ thuật.
Các lãnh đạo
Có các nhà lãnh đạo trong thời Minh Trị duy tân khi hoàng đế Nhật Bản lấy lại quyền lực từ các shogun Tokugawa. Một vài người tiếp tục trở thành Thủ tướng Nhật Bản.
• Okubo Toshimichi (大久保 利通) (1830-1878)
• Kido Takayoshi (木戸 孝允) (1833-1877)
• Saigō Takamori (西郷 隆盛) (1827-1877)
• Iwakura Tomomi (岩倉 具視) (1825-1883)
• Ito Hirobumi (伊藤 博文) (1841-1909)
• Kuroda Kiyotaka (黒田 清隆) (1840-1900)
• Matsukata Masayoshi (松方 正義) (1835-1924)
• Oyama Iwao (大山 巌) (1842-1916)
• Saigō Tsugumichi (西郷 従道) (1843-1902)
• Yamagata Aritomo (山県 有朋) (1838-1922)
• Inoue Kaoru (井上馨) (1835-1915)
• Saionji Kinmochi (西園寺 公望) (1849-1940)
Ý nghĩa
Những sự kiện xảy ra ở Nhật Bản vào những năm 1860-1870 là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để và "thời kì Minh Trị" là thời kì quá độ từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Sau năm 1868, chính quyền không ở trong tay giai cấp tư sản mà là nền chuyên chế của Nhật hoàng, ra đời trên cơ sở liên minh quý tộc - tư sản để lật đổ Shogun. Các nhà lãnh đạo mới và tầng lớp ưu tú mới của đất nước đều có nguồn gốc võ sĩ, vì thế nước Nhật mới - Đại đế quốc Nhật Bản - vẫn mang nhiều tính chất quân phiệt. Điều này giải thích tại sao Nhật Bản có nhiều hoạt động quân sự quy mô cho đến tận Thế chiến thứ hai.
Nhưng, cuộc cách mạng 1868 cũng mở đường cho việc biến nước Nhật Bản phong kiến thành một nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi số phận một nước thuộc địa hay nửa thuộc địa. Cuộc cách mạng Minh Trị đã dẫn đến sự công nghiệp hóa của Nhật Bản, khiến nước này trở thành một cường quốc quân sự năm 1905 sau khi đánh bại hải quân hoàng gia Nga.
Với mong muốn đuổi kịp phương Tây, giáo dục đã trở nên rất được coi trọng. Và chỉ trong vòng hai, đến ba thế hệ, nước Nhật đã từ chỗ coi trọng thân phận con người theo nguồn gốc dòng dõi sang theo lý lịch giáo dục. Điều này làm cho xã hội Nhật Bản trở nên bình đẳng một cách đáng kể, thậm chí hơn cả nước Anh cùng thời. Nhưng nó cũng làm cho tính giáo điều trở thành nếp trong suy nghĩ của người Nhật.

Thời kì Mạc Phủ ( Edo)
Thời kỳ Edo (江戸時代 | Giang Hộ thời đại), còn gọi là thời Tokugawa, kéo dài từ năm 1603 đến năm 1868.
• Sơ kỳ Edo (1603 đến đầu thế kỷ 18)
1600, Tokugawa Ieyashu đánh bại liên quân 40 Daimyo miền Tây tại Shekigahara và nắm chính quyền. Tokugawa được bổ nhiệm làm shogun (cả Oda Nobugana lẫn Toyotomi Hideyoshi đều không cố gắng trở thành shogun mà chỉ duy trì quyền lực qua các vị trí chính thức tại triều đình). Các daimyo chống đối gia đình Tokugawa đều bị chuyển tới các thái ấp ở những vùng xa trung tâm và bị ép phải dùng phần lớn của cải của họ để làm đường và các dự án khác, bị buộc phải luân phiên di chuyển hàng năm giữa Edo và thái ấp của mình, để lại gia đình làm con tin lâu dài ở Edo. Các thái ấp được những người tùy tùng của shogun cai quản, tuy nhiên quyền lực ở đây rất lớn. Thành lập bộ luật hợp pháp cho các gia đình quý tộc, tạo điều kiện cho chế độ shogun kiểm soát triều đình và hoàng đế. Hệ thống 4 đẳng cấp shinokosho(sĩ nông công thương) được thừa nhận, cùng với việc hôn nhân giới hạn trong những người ở cùng một đẳng cấp. Ở từng đẳng cấp, mối quan hệ chủ-tớ phong kiến được thiết lập. Chế độ shogun Tokugawa được cấu thành vững chắc từ hệ thống này và được biết tới dưới tên gọi bakuhan (kết hợp shogun và chủ thái ấp). Buôn bán và đạo Cơ đốc một lần nữa lại phát triển thịnh vượng trong thời gian ngắn, tuy nhiên, cũng như Hideyoshi, Ieyasu ngày càng e ngại đạo Cơ đốc và bắt đầu những biện pháp đàn áp với mức độ ngày càng tăng. Tới thời kỳ của shogun Tokugawa thì đạo Cơ đốc hoàn toàn bị cấm tại Nhật Bản. Những người Nhật Bản theo đạo Cơ đốc bị hành hình. Các thương gia, trừ người Hà Lan và người Trung Hoa, đều bị cấm tới Nhật Bản, và người Hà Lan bị hạn chế chỉ cho phép đến một hòn đảo nhỏ ở cảng Nagasaki.
Cùng với việc thống nhất đất nước, quyền lực của chế độ shogun được củng cố, việc cai trị tập trung, công nghiệp và nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, giao thông được cải thiện, đem lại sự thịnh vượng cho buôn bán và thương mại nội địa. Các thị trấn mọc lên ngày càng nhiều và rất hưng thịnh, đặc biệt là các đô thị quanh cung điện. Giới thương gia trở nên giàu có, và từ tầng lớp này xuất hiện những hình thức nghệ thuật mới, bao gồm thơ haiku mà Matsuo Basho là người khai sáng, tiểu thuyết bình dân của Ihara Saikaku, kịch của Chikamatsu Monzaemon, các bản tranh khắc gỗ, kịch Ca vũ kỹ được dàn dựng lần đầu tiên ở Kyoto vào đầu thời kỳ này, sau đó hạn chế chỉ dành cho diễn viên nam, bắt đầu được diễn ở Edo và Osaka vào cuối thế kỷ 17.
• Trung kỳ Edo (Đầu thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19)
Hệ thống bakuhan không ngừng suy yếu do sự tập trung của cải vào tay giới thương gia. Chế độ shogun gặp phải những khó khăn tài chính, samurai và nông dân rơi vào cảnh nghèo khó. Đã có các nỗ lực nhằm cải cách chế độ shogun, nhưng do vẫn duy trì chính sách thả lỏng việc tư nhân kinh doanh nên tình trạng suy vong ngày càng nặng nề. Nạn đói kém và thảm hoạ thiên nhiên, cộng thêm sưu cao thuế nặng (đối với lúa gạo) mà chế độ shogun và daimyo bắt người dân gánh vác đã biến những người nông dân và các tầng lớp dân thường khác thành nghèo khổ. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân xuất hiện. Lĩnh vực văn hoá chứng kiến sự nở rộ cuối cùng của nền văn hoá Edo. Các truyện ngắn theo xu hướng phóng đãng, truyện tình lịch sử, nghệ thuật đóng kịch Kabuki, các loại tranh và bản in gỗ gồm nishiki-e (bản in tranh nhiều màu) được phát triển. Giáo dục được truyền bá vào tầng lớp thương gia và thậm chí cả những nông dân tại terakoya. Phát triển các trường kokugaku (Quốc học), một xu hướng giáo dục thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa và trở lại các truyền thống quốc gia. Rangaku (Lan học) - việc nghiên cứu các tác phẩm khoa học khác nhau du nhập từ phương Tây qua các thương nhân Hà Lan như địa lý, y học, thiên văn, vật lý, hoá học cũng dần dần phát triển.
• Hậu kỳ Edo (Đầu thế kỷ 19 đến 1868)
Suốt giai đoạn đầu Edo, những người nước ngoài đủ loại đã đặt chân lên đất Nhật Bản, nhưng phải đến sau chuyến viếng thăm của thuyền trưởng Perry năm 1853 nhân danh Tổng thống Mỹ đề nghị mở cửa đất nước để buôn bán, các lực lượng trong và ngoài Nhật Bản mới dần dần ép nhà nước phải từ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng. Chế độ shogun quyết định buôn bán với các dân tộc khác. Mặc dù xung đột quyền lực giữa shogun và các lực lượng hoàng gia đã đem lại thắng lợi cho những người ủng hộ Nhật hoàng - những người đã công khai chống đối chính sách này - nhưng sau khi shogun sụp đổ, họ đã ủng hộ chính sách buôn bán với nước ngoài và việc đổi mới đất nước.

Mai Mèo
11-09-07, 09:46 AM
Sau đây là 1 số tài liệu về Ấn Độ, cần thì vào coi nha
Ấn Độ (tên gọi tiếng Hinđi: Bharat; tên cổ Thiên Trúc 天竺, Quyên Độc 身毒) là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. Ấn Độ có ranh giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan và Afghanistan. Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới, với dân số trên một tỉ người, và đồng thời lớn thứ bảy về diện tích.

Cộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế giới vào ngày 15 tháng 8 năm 1947. Sự thiết lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu tranh của những người tại Nam Á để thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Anh. Ấn Độ có nền văn minh Ấn hà (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn năm. Ấn Độ là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới: Ấn Độ giáo (Hindu), Phật giáo, Jaini giáo và Sikh giáo. Trước ngày độc lập, Ấn Độ là một bộ phận trong tiểu lục địa Ấn Độ thuộc Anh. Việc thành lập quốc gia này có công rất lớn của Mohandas Gandhi, người được ca tụng là "người cha của Ấn Độ". Ông đã thuyết phục chính phủ Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ bằng con đường hòa bình và được chấp nhận. Nhưng Anh đã quyết định tách Ấn Độ thành hai quốc gia: một có đa số dân theo đạo Hindu là Ấn Độ; một có đa số dân theo Hồi giáo là Pakistan, nước này lại gồm hai phần: phần phía đông Ấn Độ gọi là Đông Pakistan (sau này là Bangladesh), phần phía tây gọi là Tây Pakistan (Cộng hòa Hồi giáo Pakistan ngày nay). Hai phần lãnh thổ này cách nhau trên 2000 km băng qua lãnh thổ Ấn Độ.

Ấn Độ lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 7 tháng 1 năm 1972.
Lịch sử
Những địa điểm cư trú Thời đồ đá với những bức tranh tại Bhimbetka, Madhya Pradesh là những dấu vết sớm nhất từng biết về đời sống con người tại Ấn Độ hiện nay. Những khu định cư thường xuyên sớm nhất được biết đã xuất hiện từ 9,000 năm trước, và dần phát triển vào Văn minh lưu vực sông Ấn Độ, đã bắt đầu từ khoảng năm 3300 TCN và lên tới tột đỉnh từ khoảng giữa năm 2600 TCN và 1900 TCN. Các thành phố của nền văn hóa này có những đặc tính đô thị và khoa học tiến bộ như những hệ thống thoát nước dân sự ở mức độ cao. Tiếp sau nó là Văn minh Vệ Đà, do các bộ tộc Ấn-Aryan từng lập ra các cơ sở cổ đại của Hindu giáo và các khía cạnh văn hóa khác tạo ra. Trong những văn bản Vedic cổ và thần thoại Hindu, vùng đất được coi là Bharatavarsha. Từ khoảng năm 550 TCN, nhiều vương quốc độc lập như Mahajanapadas đã được lập nên khắp đất nước. Nước này có một văn hóa tôn giáo rất phức tạp, là nơi sinh ra Đạo Giai na và Phật giáo. Các trường học cổ đã xuất hiện ở Taxila, Nalanda, Pataliputra và Ujjain.

Đế chế do triều đình Maurya thời Hoàng đế Ashoka dựng lên đã thống nhất hầu hết Nam Á hiện nay. Từ năm 180 TCN, một loạt các cuộc tấn công từ Trung Á của người Ấn-Hi Lạp, Ấn-Scythia, Ấn-Parthia và Kushans xảy ra ở phía tây bắc tiểu lục địa Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ 3 TCN, triều đình Gupta đã cai trị ở khoảng thời gian được coi là "Thời đại vàng son" trong lịch sử cổ đại Ấn Độ. Ở phía nam, nhiều triều đình, gồm Chalukyas, Rashtrakutas, Cheras, Cholas, Pallavas và Pandyas nổi lên ở những giai đoạn khác nhau. Khoa học, Cơ khí, nghệ thuật, văn chương, toán học, thiên văn học, tôn giáo và triết học phát triển mạnh dưới thời cai trị của các ông vua đó.
Tháp Sanchi tại Sanchi, Madhya Pradesh do hoàng đế Ashoka xây dựng ở thế kỷ thứ 3 TCN
Tháp Sanchi tại Sanchi, Madhya Pradesh do hoàng đế Ashoka xây dựng ở thế kỷ thứ 3 TCN

Sau những cuộc tấn công xâm lược từ Trung Á, giữa thế kỷ thứ 10 và 12, đa phần bắc Ấn Độ đã thuộc quyền cai quản của Vương quốc Hồi giáo Delhi, và sau đó là triều đình Mughal, triều đình này dần mở rộng quyền kiểm soát của họ ra toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ. Tuy nhiên, nhiều vương quốc bản xứ cũng phát triển mạnh, đặc biệt ở phía nam, như Đế chế Vijayanagara. Trong thế kỷ thứ 18 và 19, nhiều nước Châu Âu, gồm Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp và Anh Quốc, ban đầu đến Ấn Độ với tư cách là những nhà buôn, sau đó lợi dụng tình trạng bất hòa trong các mối quan hệ giữa các vương quốc để thành lập ra các thuộc địa ở Ấn Độ. Tới năm 1856, đa phần Ấn Độ thuộo quyền kiểm soát của Công ty Đông Ấn Anh Quốc, với thủ đô tại Calcutta. Một năm sau, những cuộc cổi dậy quân sự diễn ra khắp nơi, người Ấn Độ gọi đó là Chiến tranh giành độc lập lần thứ nhất (trong tiếng Anh gọi là Sepoy Mutiny), cuộc nổi dậy không thành công vì nó đe dọa nghiêm trọng quyền cai trị của người Anh. Vì thế Ấn Độ bị Đế chế Anh quản lý trực tiếp.
Mahatma Gandhi (phải), Người Cha của Dân tộc tại Ấn Độ với Muhammad Ali Jinnah, Người Cha của Quốc gia tại Pakistan; ảnh chụp tại Bombay (hiện nay là Mumbai) năm 1944.
Mahatma Gandhi (phải), Người Cha của Dân tộc tại Ấn Độ với Muhammad Ali Jinnah, Người Cha của Quốc gia tại Pakistan; ảnh chụp tại Bombay (hiện nay là Mumbai) năm 1944.

Đầu thế kỷ 20, một cuộc đấu tranh giành độc lập diễn ra do Quốc hội quốc gia Ấn Độ tiến hành, dưới sự lãnh đạo của những người Ấn Độ như Bal Gangadhar Tilak, Mahatma Gandhi, Sardar Vallabhbhai Patel và Jawaharlal Nehru. Hàng triệu người chống đối đã tham gia vào những chiến dịch bất tuân dân sự với lời tuyên thệ ahimsa - bất bạo động - và họ đã hành động đúng như vậy. Gandhi sẽ dẫn dắt người dân Ấn Độ vào cuộc đi bộ lấy muối Dandi (Dandi Salt March) để thách thức thuế muối, và một cuộc nổi dậy toàn quốc năm 1942 yêu cầu nước Anh Rời khỏi Ấn Độ. Ấn Độ giành lại độc lập ngày 15 tháng 8, 1947 - 565 tiểu quốc do các ông hoàng cai trị đã thống nhất với các tỉnh từ thời thuộc địa Anh để lập nên một quốc gia duy nhất, nhưng chỉ sau khi các tỉnh có đa số người Hồi giáo đã tách ra, hậu quả của chiến dịch ly khai do Liên đoàn Hồi giáo lãnh đạo, để thành lập Pakistan. Từ khi giành được độc lập, Ấn Độ đã nhiều lần phải đối mặt với bạo lực giữa các giáo phái và những vụ nổi loạn ở nhiều vùng trong nước, nhưng họ vẫn giữ được sự thống nhất và dân chủ. Ấn Độ có tranh chấp biên giới còn chưa giải quyết xong với Trung Quốc, vụ việc này đã leo thang trở thành một cuộc Chiến tranh Trung-Ấn ngắn năm 1962; và với Pakistan, dẫn tới các cuộc chiến tranh năm 1947, 1965, 1971 và năm 1999 tại Kargil. Ấn Độ là thành viên sáng lập của Phong trào không liên kết và Liên hiệp quốc. Năm 1974, Ấn Độ đã tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân ngầm dưới đất, khiến họ trở thành thành viên không chính thức của "câu lạc bộ hạt nhân". Sau đó họ tiến hành thêm năm vụ thử nghiệm nữa trong năm 1998. Những cải cách kinh tế đáng chú ý diễn ra từ năm 1991 đã biến Ấn Độ trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, làm tăng vị thế của họ trong vùng và trên toàn thế giới.

Mai Mèo
13-09-07, 06:25 PM
Sau đây là 1 số tài liệu về nước Ấn Độ, tuy nó ko đầy đủ, nhưng mình cảm thấy có thể có ích khi làm bài kiểm tra
ẤN ĐỘ
Lịch sử
Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi từng phát sinh một trong những nền văn minh cổ nhất thế giới, nền văn minh Thung lũng Indus cách đây khoảng 5000 năm. Tới khoảng năm 1500 trước Công nguyên, các bộ lạc người Aryan tràn đến vùng tây-bắc Ấn. Tiếp đó, là những đợt xâm lăng của quân Ả-Rập, Thổ và bắt đầu từ cuối thế kỷ 15, thương buôn các nước Âu Châu đặt chân tới Ấn.

Đến năm 1769, tất cả mọi thương vụ buôn bán ở Ấn với các nước Âu Châu đều do Công ty Đông Ấn (East-India Company) của Anh Quốc kiểm soát. Năm 1858, vì bất mãn, dân Ấn nổi dậy chống lại Công ty Đông Ấn suốt một năm liền. Chính phủ Anh phải cho quân bảo vệ tất cả các cơ sở buôn bán của thương buôn người Anh ở Ấn. Sự kiện này dẫn đến chỗ Anh Quốc bắt đầu thiết lập chế độ cai trị ở Ấn Độ.

Sau đó, người dân Ấn càng lúc càng lên tiếng đòi độc lập. Năm 1915, nhà tranh đấu Mohandas Gandhi bắt đầu đưa ra chủ trương thay đổi chính quyền bằng phương thức chống đối bất bạo động. Gandhi là khuôn mặt chính trong phong trào quốc gia suốt 30 năm liền. Trong giai đoạn này, dân chúng Ấn tôn vinh ông danh hiệu Mahatma tức Thánh Gandhi.

Anh Quốc cuối cùng trao trả độc lập cho Ấn Độ vào ngày 15, tháng Tám, 1947. Vùng tiểu lục địa được chia cắt thành hai nước: Ấn Độ, một nước theo thế tục và quốc gia Hồi giáo Pakistan. Ngay sau đó, cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử cận đại diễn ra.

Hằng trăm nghìn người Hồi giáo bỏ quê quán ở Ấn sang Pakistan sinh sống; ngược lại, tín đồ Ấn giáo và người Sikhs cũng đến Ấn lập nghiệp. Việc chia cắt đất đai tạo thành hai nước phải trả giá bằng sinh mạng ít nhất 250.000 người bỏ mình trong cuộc di cư của hơn 10 triệu con người.

Tháng Giêng, năm 1948, Gandhi bị một phần tử quá khích Ấn giáo ám sát chết. Lãnh tụ tranh đấu đòi độc lập cho Ấn, Jawaharlal Nehru trở thành thủ tướng đầu tiên. Năm 1950, ông cho ra mắt hiến pháp bao gồm những quy định cam kết nhà nước Ấn được đặt trên cơ sở thế tục.

Ngay sau khi tiến trình phân chia lãnh thổ hoàn tất, quan hệ giữa Ấn với Pakistan trở nên căng thẳng. Chiến tranh bộc phát năm 1948 tại Kashmir, khu vực có đa số cư dân là người Hồi giáo. Năm 1949, mặc dù Pakistan và Ấn Độ đã đồng ý chia đôi Kashmir, vấn đề vẫn không thể giải quyết ổn thỏa vì bên nào cũng muốn làm chủ nguyên vùng này. Năm 1965, hai nước lại giao chiến do tranh giành đất Kashmir. Tới năm 1971, chiến tranh tái phát giữa hai lân quốc đối nghịch chỉ vì Ấn ủng hộ việc Đông Pakistan đòi độc lập, trở thành một quốc gia riêng biệt mang tên Bangladesh.

Bên cạnh đó, chiến tranh biên giới cũng xảy ra trong thời gian ngắn giữa Ấn Độ với Trung Quốc vào năm 1962 do hai bên tranh chấp chủ quyền tại Aksai Chin, một khu vực trong vùng Hy Mã Lạp Sơn và cũng là điểm tiếp giáp biên giới Ấn Độ, Trung Quốc và Pakistan. Tuy bộ đội Trung quốc nhanh chóng giành phần thắng; nhưng vụ tranh chấp đến nay vẫn ảnh hưởng tới bang giao Ấn-Trung. Năm 2005, hai nước ký hiệp ước dàn xếp vụ xung khắc dằng dai suốt 40 năm liền.